Ở nước ta, cây mọc hoang rải rác ở khắp nơi, đồng bằng cũng như rừng núi.
Trong lá Tiết dê có một chất nhầy. Trong cây có các alcaloit như Cissamparein, Hayatin, Hayatidin,... Vỏ rễ chứa Menismin, Cissamin, Pereirin. Trong rễ đã chiết được 1 alcaloit có vị đắng gọi là Cissampelin hay Pelosin với tỷ lệ 0,5%. Năm 1952, từ rễ cây Tiết dê người ta chiết được 1 alcaloit gọi là Hayatin và 1 alcaloit nữa gọi là Hayatinin.
Ở nước ta, lá Tiết dê là một vị thuốc kinh nghiệm nhân dân rất phổ biến dùng để chữa những trường hợp tiểu tiện khó khăn, sốt lỵ. Nói chung người ta cho rằng lá Tiết dê là 1 vị thuốc “mát” có tác dụng chữa những trường hợp “nóng” như sốt cao, táo bón, tiểu tiện khó khăn đau buốt, ra máu. Rễ hay lá còn được dùng giã nát đắp lên các vết loét.
Chữa tiểu tiện khó khăn, sốt, lỵ: Lá Tiết dê tươi 50g, vò nát hay giã nhỏ, thêm một ít nước chín nguội, vắt lấy nước, để một chốc cho đông lại mà uống. Có thể thêm đường cho dễ uống. Ngày 40-100g lá tươi.
Chữa chậm tiêu, đau bụng: Rễ Tiết dê 4 phần, Hạt tiêu 5 phần, Gừng 6 phần. Tất cả trộn đều, thêm mật ong vào nhào thành bột nhão, viên thành viên. Ngày uống 0,20-0,30g thuốc này.
Một số nơi còn dùng rễ hái quanh năm về phơi khô hay sao vàng sắc uống.
Tránh nhầm lẫn
Cây Tiết dê nói trên cần tránh nhầm lẫn với các cây sau:
- Cây Tiết dê lông hay Hồ đằng lông.
Tên khoa học: Cissampelos pareira L. var hirsuta (DC) Ferman. Lá có lông như nhung, mềm ở cả 2 mặt.
- Cây Tiết dê lá dày, còn gọi là dây Châu đảo.
Tên khoa học: Pericampylus glaucus (Lam.) Merr = Cocculus glaucescens Bl = Diploclisia macrocarpa (W.et A.) Miers. Cây này mọc ở Hà Giang, Hoà Bình, Ninh Bình, Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế. Lá của nó dùng để làm thuốc cầm máu, chữa đau mắt, sốt, đau bụng, khó tiêu. Cây Tiết dê lá dày còn chứa alcaloit gây say.
- Cây Dây song bào
Tên khoa học: Diploclisia glaucescens (Bl.) Diels = Menispermun glaucum Lamk. Lá dài 5-10cm, rộng 6-11cm, đáy ngang hay lõm, có khi hình lọng, không lông, mặt dưới hơi mốc. Quả tròn dài 15mm hơi cong, màu vàng hay cam. Mọc ở vùng rừng còi hoặc ven rừng ở Đà Nẵng, Vọng Phu, Nha Trang, Cà Ná, Tây Ninh. Cây mọc từ thấp đến độ cao 1200m. Lá cây này dùng để trị gan ít mật.
Văn Chương_ CTQ số 04